Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá vào tài khoản phong toả tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm mình sẽ làm đúng nghĩa vụ. Nếu bên đó không làm hoặc làm không đúng, bên có quyền được chính tổ chức tín dụng thanh toán, bồi thường từ khoản ký quỹ, sau khi trừ chi phí dịch vụ. Đó là cách Bộ luật Dân sự 2015 mô tả biện pháp này.
Khác với đặt cọc hay ký cược, tiền ký quỹ không đi vào tay người nhận bảo đảm. Nó nằm ở một bên thứ ba có tiếp nhận tiền gửi, bị khoá lại cho tới khi điều kiện giải toả xảy ra. Chính điểm này làm ký quỹ hợp với những giao dịch mà hai bên chưa đủ tin nhau để một bên cầm tiền của bên kia. Bài giải thích cơ chế đó, những nơi bạn hay gặp chữ "ký quỹ", và những điều cần ghi rõ để khoản tiền không bị kẹt.
Ký quỹ theo Bộ luật Dân sự 2015: đọc định nghĩa cho dễ hiểu
Bộ luật Dân sự 2015 liệt kê chín biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ: cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp và cầm giữ tài sản. Ký quỹ là biện pháp duy nhất trong số đó bắt buộc phải có mặt một tổ chức tín dụng. Không có ngân hàng hay tổ chức tín dụng giữ tài khoản phong toả thì về mặt pháp lý đó không phải ký quỹ, dù hai bên có gọi tên như vậy.
Tách định nghĩa ra thành ba ý. Thứ nhất, người ký quỹ là bên có nghĩa vụ, tức là người cần chứng minh mình sẽ làm đúng: trả tiền, giao hàng, hoàn thành công việc, hoặc tuân thủ một điều kiện kinh doanh. Thứ hai, tài sản ký quỹ gồm tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá như sổ tiết kiệm, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi. Thứ ba, tài sản đó được gửi vào tài khoản phong toả, nghĩa là chủ tài khoản không tự rút được cho tới khi có căn cứ giải toả.
Khi nghĩa vụ bị vi phạm, người được bảo đảm không tự lấy tiền mà yêu cầu tổ chức tín dụng nơi ký quỹ thanh toán, bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ gây ra. Tổ chức tín dụng trừ chi phí dịch vụ của mình rồi chi trả. Thủ tục gửi và thanh toán do pháp luật về ngân hàng quy định, nên mỗi ngân hàng có quy trình, biểu mẫu và điều kiện riêng. Người dân hiếm khi đọc trọn các quy định ngân hàng; điều cần nắm là bộ khung pháp lý trên và những gì phải thoả thuận cho rõ.
Ba bên trong một giao dịch ký quỹ và việc của từng bên
Bên ký quỹ. Là người gửi tài sản. Họ vẫn là chủ sở hữu khoản tiền trong suốt thời gian phong toả, chỉ tạm mất quyền rút. Nếu khoản ký quỹ là tiền gửi có kỳ hạn, tiền lãi phát sinh thuộc về ai là chuyện phải đọc trong thoả thuận với ngân hàng; nhiều trường hợp lãi vẫn trả cho chủ tài khoản. Khi nghĩa vụ đã làm xong, bên ký quỹ có quyền yêu cầu giải toả.
Bên nhận bảo đảm. Là người được hưởng khoản ký quỹ nếu bên kia vi phạm. Họ không cầm tiền, không có quyền định đoạt tài khoản, nhưng có quyền yêu cầu tổ chức tín dụng chi trả khi có đủ căn cứ. Căn cứ đó phải được mô tả trước, ví dụ biên bản xác nhận vi phạm có chữ ký hai bên, bản án, phán quyết, hoặc một văn bản mà hai bên đã thống nhất là đủ để ngân hàng giải ngân.
Tổ chức tín dụng. Là người giữ tài khoản phong toả và làm theo chỉ dẫn đã thống nhất. Ngân hàng không đứng ra phân xử ai đúng ai sai trong hợp đồng chính giữa hai bên. Họ kiểm tra hồ sơ yêu cầu chi trả có khớp điều kiện không, rồi giải toả theo điều kiện. Vì vậy, điều kiện càng mơ hồ thì ngân hàng càng dè dặt, và tiền càng dễ nằm im trong lúc hai bên tranh cãi.
Ai trả phí. Dịch vụ ký quỹ, phong toả, giải toả thường có phí theo biểu phí của từng ngân hàng. Luật không áp ai phải chịu, nên hai bên cần thoả thuận. Phần phí dịch vụ sẽ được trừ trước khi chi trả cho bên nhận bảo đảm, nên con số thực nhận có thể thấp hơn số đã ký quỹ.
Ký quỹ khác đặt cọc và ký cược ở những điểm nào
Ba biện pháp này đều dùng tiền hoặc tài sản giữ trước nên hay bị gọi chung là "cọc". Bảng dưới cho thấy chúng khác nhau ở người cầm tài sản và hậu quả khi có vi phạm.
| Tiêu chí | Ký quỹ | Đặt cọc | Ký cược |
|---|---|---|---|
| Ai giữ tài sản | Tổ chức tín dụng, trong tài khoản phong toả | Bên nhận cọc giữ trực tiếp | Bên cho thuê giữ trực tiếp |
| Dùng cho giao dịch nào | Bất kỳ nghĩa vụ nào hai bên hoặc luật chuyên ngành đặt ra | Giao kết hoặc thực hiện hợp đồng | Chỉ khi thuê tài sản là động sản, để bảo đảm trả lại tài sản thuê |
| Tài sản dùng được | Tiền, kim khí quý, đá quý, giấy tờ có giá | Tiền, kim khí quý, đá quý, vật có giá trị khác | Tiền, kim khí quý, đá quý, vật có giá trị khác |
| Khi bên kia vi phạm | Được tổ chức tín dụng thanh toán, bồi thường thiệt hại sau khi trừ phí dịch vụ | Quy tắc mất cọc hoặc trả cọc kèm khoản tương đương, nếu không thoả thuận khác | Tài sản ký cược thuộc bên cho thuê nếu tài sản thuê không còn để trả |
| Rủi ro lớn nhất | Điều kiện giải toả mơ hồ, tiền bị kẹt lâu | Bên nhận cọc tiêu mất tiền hoặc bỏ trốn | Tranh cãi về hư hỏng và khấu trừ khi trả đồ |
Điểm đáng nhớ ở bảng: ký quỹ không có chế tài cố định kiểu "mất trọn" như đặt cọc. Bên nhận bảo đảm chỉ được chi trả trong phạm vi thanh toán nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại, phần còn lại vẫn của bên ký quỹ. Nếu hai bên muốn có khoản phạt, phải thoả thuận phạt vi phạm riêng.
Bạn thường gặp chữ "ký quỹ" ở đâu
Phần lớn người dân gặp ký quỹ không phải vì tự chọn, mà vì một quy định hay một đối tác yêu cầu. Một số bối cảnh hay gặp:
- Doanh nghiệp làm ngành nghề có điều kiện: một số luật chuyên ngành buộc doanh nghiệp ký quỹ tại ngân hàng mới được cấp phép, ví dụ kinh doanh dịch vụ lữ hành hay bán hàng đa cấp. Khách hàng của họ là người hưởng lợi gián tiếp.
- Hợp đồng giữa doanh nghiệp với nhau: bên mua yêu cầu nhà cung cấp ký quỹ bảo đảm giao hàng, hoặc nhà phân phối ký quỹ để được nhận hàng trả chậm.
- Giao dịch dân sự giá trị lớn giữa hai cá nhân: hai bên thống nhất để tiền ở tài khoản phong toả của ngân hàng thay vì đưa cọc cho nhau, chờ một sự kiện như sang tên xong, giao máy xong. Không phải ngân hàng nào cũng nhận dịch vụ này cho cá nhân; cần hỏi trước.
- Chữ "ký quỹ" dùng theo nghĩa khác: giao dịch ký quỹ chứng khoán là một hình thức vay của công ty chứng khoán, không phải biện pháp bảo đảm theo nghĩa của Bộ luật Dân sự. Những lời mời "nạp tiền ký quỹ" để nhận việc, nhận đơn hàng trên mạng thì càng không phải.
- Tiền cược ở cửa hàng gọi nhầm là ký quỹ: cửa hàng cho thuê đồ cầm tiền mặt của khách rồi ghi "tiền ký quỹ" trên phiếu. Về bản chất đó là ký cược hoặc đặt cọc, vì không có tài khoản phong toả nào cả.
Gọi đúng tên giúp bạn biết quyền của mình. Khoản tiền nằm trong ngăn kéo của cửa hàng thì rủi ro là cửa hàng; khoản tiền nằm trong tài khoản phong toả thì rủi ro chủ yếu là cách ghi điều kiện giải toả.
Các bước làm một giao dịch ký quỹ ở ngân hàng
Mỗi ngân hàng có quy trình riêng, nhưng một giao dịch ký quỹ giữa hai bên thường đi qua các bước dưới đây. Ví dụ giả định: một hộ kinh doanh đặt xưởng cơ khí làm dây chuyền và muốn tiền thanh toán đợt cuối nằm ở ngân hàng cho tới khi máy chạy thử đạt.
- Hai bên thống nhất trong hợp đồng chính: nghĩa vụ nào được bảo đảm, số tiền ký quỹ, thời hạn phong toả, điều kiện giải toả cho từng bên và ai chịu phí.
- Bên ký quỹ liên hệ ngân hàng hỏi sản phẩm ký quỹ hoặc phong toả tài khoản theo yêu cầu, giấy tờ cần mang, biểu phí, cách tính lãi nếu có.
- Ký thoả thuận ký quỹ với ngân hàng. Tốt nhất bên nhận bảo đảm cũng ký hoặc được ghi tên là người thụ hưởng, để ngân hàng biết ai có quyền yêu cầu chi trả.
- Nộp tiền hoặc chuyển giấy tờ có giá vào tài khoản phong toả, nhận chứng từ xác nhận phong toả. Bên nhận bảo đảm nên giữ một bản xác nhận này.
- Khi điều kiện xảy ra, bên được hưởng nộp hồ sơ yêu cầu theo đúng danh mục đã thoả thuận. Ví dụ máy chạy thử đạt: biên bản nghiệm thu có chữ ký hai bên là căn cứ giải toả cho xưởng.
- Ngân hàng đối chiếu hồ sơ với điều kiện, trừ phí dịch vụ rồi chi trả hoặc giải toả. Hết thời hạn mà không có yêu cầu hợp lệ, khoản ký quỹ được trả về theo thoả thuận.
Bước thứ nhất quyết định gần hết. Ngân hàng chỉ làm theo chữ đã ghi; nếu hợp đồng chính và thoả thuận với ngân hàng lệch nhau, khoản tiền có thể nằm im rất lâu.
Khi có tranh chấp: tiền ký quỹ đi về đâu
Hai bên cùng xác nhận. Trường hợp gọn nhất là hai bên cùng ký văn bản đề nghị ngân hàng chi trả hoặc giải toả. Kể cả khi đang bất đồng về phần khác, nếu cùng thống nhất được số tiền thì nên ký xác nhận phần đó để giải toả trước.
Chỉ một bên yêu cầu. Nếu thoả thuận cho phép một bên đơn phương yêu cầu kèm chứng cứ nhất định, ngân hàng xem chứng cứ có đúng loại đã ghi không. Nếu thoả thuận đòi hai chữ ký mà một bên không chịu ký, ngân hàng thường giữ nguyên phong toả cho tới khi có văn bản của cơ quan có thẩm quyền.
Đưa ra toà hoặc trọng tài. Khi tranh chấp phải giải quyết bằng toà án hoặc trọng tài, bản án, quyết định, phán quyết có hiệu lực là căn cứ để ngân hàng chi trả. Lúc này khoản ký quỹ vẫn an toàn, không ai tẩu tán được, nhưng thời gian chờ có thể kéo dài.
Thiệt hại thấp hơn số ký quỹ. Bên nhận bảo đảm chỉ được thanh toán phần nghĩa vụ bị vi phạm và thiệt hại thật đã chứng minh. Phần dư trả lại bên ký quỹ. Đây là khác biệt lớn so với tiền cọc, nơi luật mặc định cho mất trọn khoản cọc.
Thiệt hại cao hơn số ký quỹ. Phần thiếu không biến mất. Bên nhận bảo đảm vẫn có quyền đòi phần còn lại như một khoản nợ thông thường, chỉ là không còn tài sản bảo đảm riêng cho phần đó.
Những điều phải ghi rõ và những lỗi hay gặp
Phần lớn rắc rối với ký quỹ không đến từ luật mà từ cách ghi. Trước khi ký, đối chiếu danh sách dưới đây:
- Ghi rõ nghĩa vụ được bảo đảm là nghĩa vụ nào, trong hợp đồng nào, tránh câu chung chung như "bảo đảm mọi nghĩa vụ".
- Ghi danh mục giấy tờ cụ thể để yêu cầu giải toả cho từng tình huống: làm xong nghĩa vụ, vi phạm một phần, vi phạm hoàn toàn.
- Ghi thời hạn phong toả và chuyện gì xảy ra khi hết hạn mà chưa ai yêu cầu. Không có điều này, ngân hàng có thể tiếp tục phong toả hoặc trả về theo quy định nội bộ của họ.
- Ghi ai chịu phí dịch vụ và tiền lãi của khoản ký quỹ thuộc về ai.
- Kiểm tra tên người thụ hưởng trên thoả thuận với ngân hàng đúng với bên nhận bảo đảm trong hợp đồng chính.
- Không chấp nhận "ký quỹ" vào tài khoản cá nhân của bên kia. Tiền nằm trong tài khoản thường của người nhận thì không còn là ký quỹ, mà chỉ là chuyển tiền.
- Giữ chứng từ phong toả gốc và bản sao thoả thuận. Khi người phụ trách ở ngân hàng thay đổi, đây là thứ duy nhất chứng minh điều kiện đã thống nhất.
Với giao dịch giá trị lớn hoặc điều kiện giải toả phức tạp, nên nhờ người làm nghề pháp lý đọc cả hợp đồng chính lẫn thoả thuận ký quỹ trước khi ký, vì hai văn bản này phải khớp nhau từng chữ.
Câu hỏi thường gặp
Ký quỹ có bắt buộc phải làm ở ngân hàng không?
Theo Bộ luật Dân sự 2015, ký quỹ là gửi tài sản vào tài khoản phong toả tại tổ chức tín dụng. Không có tổ chức tín dụng giữ tài khoản phong toả thì khoản tiền đó không phải ký quỹ đúng nghĩa, mà thường là đặt cọc, ký cược hoặc chỉ là trả trước.
Tiền ký quỹ có được hưởng lãi không?
Tuỳ thoả thuận với ngân hàng và loại tài khoản. Nếu ký quỹ bằng tiền gửi có kỳ hạn hoặc sổ tiết kiệm, lãi có thể vẫn trả cho chủ tài khoản. Nên hỏi ngân hàng và ghi rõ trong thoả thuận lãi thuộc về ai để tránh tranh cãi khi giải toả.
Bên kia vi phạm thì có được lấy hết tiền ký quỹ không?
Không mặc nhiên. Bên nhận bảo đảm được tổ chức tín dụng thanh toán phần nghĩa vụ bị vi phạm và bồi thường thiệt hại, sau khi trừ phí dịch vụ. Phần dư trả lại người ký quỹ, trừ khi hai bên có thoả thuận phạt vi phạm riêng hợp lệ.
Ngân hàng có đứng ra phân xử ai đúng ai sai không?
Không. Ngân hàng chỉ đối chiếu hồ sơ yêu cầu với điều kiện đã ghi trong thoả thuận ký quỹ. Khi hai bên tranh chấp mà không có giấy tờ đúng điều kiện, ngân hàng thường giữ nguyên phong toả cho tới khi có văn bản thống nhất của hai bên hoặc quyết định có hiệu lực của toà án, trọng tài.
Cửa hàng ghi "tiền ký quỹ" trên phiếu thuê đồ thì có phải ký quỹ không?
Thường là không. Nếu tiền nằm trong tay cửa hàng chứ không ở tài khoản phong toả tại ngân hàng, bản chất là ký cược khi thuê động sản hoặc đặt cọc. Quyền của bạn được xác định theo bản chất thật của giao dịch, không theo chữ ghi trên phiếu.
Có thể ký quỹ bằng vàng hoặc sổ tiết kiệm không?
Bộ luật Dân sự cho phép ký quỹ bằng tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá. Tuy vậy, mỗi ngân hàng nhận loại tài sản nào và cách định giá ra sao là do sản phẩm của họ quyết định, nên cần hỏi trực tiếp ngân hàng định làm.